Hình sự

“Bôi trơn” để có Phiếu lý lịch tư pháp: Khi khoản tiền tưởng là “chi phí dịch vụ” có thể cấu thành Tội đưa hối lộ

22/07/2026 Admin_Luat 8 phút đọc

Phiếu lý lịch tư pháp là một trong những giấy tờ quan trọng được sử dụng trong nhiều thủ tục hành chính như xin việc, cấp giấy phép lao động, định cư, nhập quốc tịch hay thành lập doanh nghiệp. Tuy nhiên, thay vì thực hiện theo đúng trình tự pháp luật, không ít người đã lựa chọn con đường “đi tắt” bằng cách chi tiền để được cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhanh hơn hoặc bỏ qua các điều kiện, thủ tục theo quy định.

ĐƯA HỐI LỘ LÀ GÌ?
Đưa hối lộ là hành vi của người đưa tiền, tài sản hoặc bất kì lợi ích phi vật chất nào cho người có chức vụ, quyền hạn để người này làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Hành vi khách quan của tội đưa hối lộ là người đưa hối lộ đã có hành vi “đưa” của hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn. Hành vi đưa của hối lộ có thể được thực hiện một cách trực tiếp (người đưa trực tiếp đưa cho người nhận hối lộ) hoặc có thể gián tiếp qua trung gian (người môi giới hối lộ).

“TIỀN DỊCH VỤ” hay “TIỀN HỐI LỘ”?
Trong thực tế, nhiều người cho rằng việc đưa thêm tiền để hồ sơ được giải quyết nhanh chỉ là “chi phí dịch vụ” hoặc “chi phí hỗ trợ”. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, bản chất của khoản tiền mới là yếu tố quyết định.
Nếu cá nhân trực tiếp hoặc thông qua trung gian đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích khác cho người có chức vụ, quyền hạn nhằm tác động để người đó thực hiện hoặc không thực hiện một công vụ vì lợi ích của mình hoặc của người khác, thì hành vi này có thể có dấu hiệu cấu thành Tội đưa hối lộ theo Điều 364 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngược lại, người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí công tác để nhận hoặc thỏa thuận nhận lợi ích nhằm thực hiện yêu cầu trái pháp luật của người đưa thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội nhận hối lộ theo Điều 354 Bộ luật Hình sự.

Để xác định một hành vi có cấu thành Tội đưa hối lộ hay không, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét các yếu tố sau:
1. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của Tội đưa hối lộ là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

2. Hành vi khách quan
Hành vi khách quan của tội phạm được thể hiện ở việc trực tiếp hoặc thông qua trung gian đưa hoặc sẽ đưa hoặc sẽ cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ.
Điểm đáng lưu ý là tội phạm có thể được xác định ngay từ thời điểm có hành vi đưa hoặc thỏa thuận đưa hối lộ, không phụ thuộc vào việc người có chức vụ đã nhận tiền hay chưa hoặc yêu cầu của người đưa có được thực hiện hay không.
Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành Tội nhận hối lộ. Tội phạm hoàn thành khi thỏa mãn điều kiện lợi ích tối thiểu mà người đưa hối lộ đưa cho người nhận hối lộ được theo quy định tại Khoản 1 Điều 364 Bộ luật Hình sự 2015 như sau:
“1. Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
b) Lợi ích phi vật chất.”

3. Mục đích của việc đưa tiền
Đây là dấu hiệu có ý nghĩa quyết định trong việc phân biệt khoản tiền hợp pháp với tiền hối lộ. Mục đính của việc đưa hối lộ là để người có chức vụ, quyền hạn chấp nhận làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người phạm tội. Tội đưa hối lộ có động cơ vụ lợi, tuy nhiên đây không phải dấu hiệu cấu thành bắt buộc của tội phạm này.
Như vậy, nếu tiền hoặc lợi ích khác được đưa nhằm được giải quyết hồ sơ nhanh hơn thời hạn luật định; được bỏ qua điều kiện hoặc thủ tục bắt buộc; được ưu tiên giải quyết so với người khác; được cấp giấy phép, giấy tờ hoặc chấp thuận trái quy định pháp luật hoặc để người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hoặc không thực hiện một nhiệm vụ theo yêu cầu của người đưa,…thì hành vi đó có dấu hiệu của Tội đưa hối lộ, bất kể khoản tiền được gọi là “chi phí dịch vụ”, “tiền hỗ trợ”, “tiền cà phê” hay bất kỳ tên gọi nào khác.

4. Lỗi của người phạm tội
Tội đưa hối lộ được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp.
Người đưa hối lộ nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, biết rõ người nhận là người có chức vụ, quyền hạn và việc đưa tiền nhằm tác động đến hoạt động công vụ nhưng vẫn mong muốn thực hiện để đạt được lợi ích cho bản thân hoặc cho người khác.

NGƯỜI DÂN ĐƯA TIỀN “BÔI TRƠN” CÓ BỊ TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ KHÔNG?
Trên thực tế, nhiều người cho rằng mình chỉ “làm theo hướng dẫn”, “đưa tiền để hồ sơ được giải quyết nhanh” hoặc “không còn cách nào khác”. Tuy nhiên, động cơ muốn giải quyết công việc thuận lợi không phải là căn cứ loại trừ trách nhiệm hình sự.
Nếu có đủ căn cứ chứng minh người đưa tiền biết rõ khoản tiền được sử dụng nhằm tác động đến người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc trái quy định thì hành vi đó hoàn toàn có thể bị xem xét về Tội đưa hối lộ.

PHÁP LUẬT QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO VỀ TỘI ĐƯA HỐI LỘ?
Theo Điều 364 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt của Tội đưa hối lộ được quy định như sau:
“Điều 364. Tội đưa hối lộ
1. Người nào trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào sau đây để người có chức vụ, quyền hạn làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
b) Lợi ích phi vật chất.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
c) Dùng tài sản của Nhà nước để đưa hối lộ;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
đ) Phạm tội 02 lần trở lên;
e) Của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
3. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội trong trường hợp của hối lộ là tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt từ tù 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
6. Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.
7. Người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì được coi là không có tội và được trả lại toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.
Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và được trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ.”

CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin