GHI NHÃN HÀNG HÓA THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 37/2026/NĐ-CP
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, ghi nhãn hàng hóa là một trong những yêu cầu pháp lý mà doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý trước khi đưa sản phẩm vào lưu thông tại thị trường Việt Nam. Việc ghi nhãn không chỉ nhằm cung cấp thông tin cho người tiêu dùng mà còn là cơ sở để xác định nguồn gốc, chủ thể chịu trách nhiệm và đảm bảo khả năng truy xuất hàng hóa.
Nhãn hàng hóa là gì? Ghi nhãn hàng hóa thực hiện như thế nào?
Theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 3 Nghị định 37/2026/NĐ-CP định nghĩa về nhãn hàng hóa và việc ghi nhãn hàng hóa như sau:
“1. Ghi nhãn hàng hóa là thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hóa trên nhãn hàng hóa để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh thông tin, quảng bá cho hàng hóa của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra, giám sát.
2. Nhãn hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh, vật mang dữ liệu được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc, gắn, hiển thị trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặc trên các phương thức khác được gắn trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa.”
Theo đó, trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa được quy định cụ thể tại Điều 41 Nghị định 37/2026/NĐ-CP như sau:
1. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa kể cả nhãn phụ phải bảo đảm ghi nhãn trung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất của hàng hóa.
2. Hàng hóa sản xuất để lưu thông trong nước thì tổ chức, cá nhân sản xuất phải chịu trách nhiệm thực hiện ghi nhãn hàng hóa.
Trong trường hợp tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa yêu cầu tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc ghi nhãn thì tổ chức, cá nhân đó vẫn phải chịu trách nhiệm về nhãn hàng hóa của mình.
Trường hợp tổ chức, cá nhân đặt gia công sản xuất sản phẩm, hàng hóa theo yêu cầu và tiêu chuẩn chất lượng của mình thì tổ chức, cá nhân đặt hàng có trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa, chịu trách nhiệm về hàng hóa và nội dung ghi nhãn hàng hóa. Tổ chức, cá nhân thực hiện gia công được ghi nhãn theo yêu cầu của bên đặt hàng nhưng không phải là tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về nhãn hàng hóa.
3. Trong trường hợp hàng hóa xuất khẩu không xuất khẩu được hoặc bị trả lại, đưa ra lưu thông trên thị trường thì tổ chức, cá nhân đưa hàng hóa ra lưu thông phải ghi nhãn theo quy định của Nghị định này.
4. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam phải ghi nhãn theo quy định về nội dung bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa nhập khẩu tại Nghị định này.
5. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa trên nền tảng thương mại điện tử trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm:
a) Công khai toàn bộ nội dung nhãn hàng hóa, nhãn điện tử (nếu có), trừ các thông tin có tính chất riêng biệt theo sản phẩm như: năm, tháng, ngày sản xuất; hạn sử dụng; số lô sản xuất; số khung, số máy trên nền tảng thương mại điện tử;
b) Khai báo, cập nhật chính xác thông tin hàng hóa lên hệ thống bán hàng theo quy định pháp luật về thương mại điện tử và bảo vệ người tiêu dùng;
c) Bảo đảm hàng hóa khi giao đến tay người tiêu dùng phải có nhãn hàng hóa theo đúng quy định.
6. Chủ quản nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm:
a) Bảo đảm hàng hóa kinh doanh trên nền tảng được khai báo thông tin ghi nhãn đầy đủ, hiển thị công khai nhãn hàng hóa, nhãn điện tử (nếu có) khi đăng bán sản phẩm, hàng hóa;
b) Cung cấp, chia sẻ dữ liệu tối thiểu để kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, bao gồm: thông tin về tổ chức, cá nhân kinh doanh trên nền tảng; dữ liệu về nhãn hàng hóa; thông tin phản ánh từ người tiêu dùng có liên quan đến nhãn hàng hóa và chất lượng sản phẩm, hàng hóa;
c) Lưu trữ đầy đủ, an toàn và bảo mật dữ liệu về nhãn hàng hóa và các thông tin liên quan trong quá trình kinh doanh trên nền tảng, bao gồm thông tin về người bán, hợp đồng điện tử, chứng từ, hóa đơn, tài liệu chứng minh tính hợp pháp của nhãn hàng hóa, tài liệu công bổ và chứng nhận chất lượng, cùng dữ liệu giao dịch. Thời hạn lưu trữ tối thiểu là 05 năm để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, không phải mọi hàng hóa nhập khẩu đều thuộc trường hợp phải ghi nhãn theo Nghị định này. Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Nghị định 37/2026/NĐ-CP, một số loại hàng hóa sau đây không thuộc trường hợp phải ghi nhãn:
- Bất động sản;
- Hàng hóa tạm nhập tái xuất; hàng hóa quá cảnh, hàng hóa chuyển khẩu; hàng hóa trung chuyển; hàng hóa nhập khẩu gửi kho ngoại quan để xuất khẩu sang nước thứ ba;
- Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh; tài sản di chuyển;
- Hàng hóa mang theo người nhập cảnh để tiêu dùng cá nhân, quà biếu, quà tặng trong định mức được miễn thuế nhập khẩu; hàng hóa nhập khẩu thuộc diện ưu đãi, miễn trừ ngoại giao theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên;
- Hàng hóa bị tịch thu bán đấu giá;
- Hàng hóa là thực phẩm tươi, sống, thực phẩm chế biến không có bao bì và bán trực tiếp cho người tiêu dùng;
- Hàng hóa là nhiên liệu, nguyên liệu (nông sản, thủy sản, khoáng sản), phế liệu (trong sản xuất, kinh doanh), vật liệu xây dựng không có bao bì và được bán trực tiếp cho người tiêu dùng;
- Hàng hóa đã qua sử dụng;
- Hàng hóa là chất phóng xạ, năng lượng điện, hàng hóa sử dụng trong trường hợp khẩn cấp nhằm khắc phục thiên tai, dịch bệnh; phương tiện giao thông đường sắt, đường thủy, đường không.
Do đó, trước khi thực hiện thủ tục nhập khẩu, doanh nghiệp cần xác định chính xác hàng hóa của mình có thuộc phạm vi điều chỉnh và có thuộc trường hợp được loại trừ hay không.
Hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa nhập khẩu
1. Kích thước nhãn hàng hóa, kích thước của chữ và số trên nhãn
Theo quy định tại Điều 37 Nghị định 37/2026/NĐ-CP về kích thước nhãn hàng hóa, kích thước của chữ và số trên nhãn cụ thể như sau:
Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa tự xác định kích thước của nhãn hàng hóa, kích thước chữ và số thể hiện trên nhãn hàng hóa nhưng phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
- Ghi được đầy đủ nội dung bắt buộc theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 42 Nghị định này.
- Kích thước của chữ và số phải bảo đảm đủ để đọc bằng mắt thường. Kích thước của chữ và số thể hiện đại lượng đo lường thì phải tuân thủ quy định của pháp luật về đo lường.
- Trường hợp hàng hóa có kích thước nhỏ hoặc bao bì có kích thước nhỏ không thể hiện được đầy đủ các nội dung bắt buộc thì phải bảo đảm ghi các nội dung quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 42 của Nghị định này trên hàng hóa hoặc bao bì của hàng hóa bằng nhãn vật lý. Các nội dung còn lại được thể hiện trong tài liệu kèm theo hoặc nhãn điện tử. Hàng hóa có kích thước nhỏ hoặc bao bì có kích thước nhỏ là hàng hóa, bao bì không thể hiện được đầy đủ các nội dung bắt buộc theo cỡ chữ tối thiểu 0,9 mm.
- Trường hợp hàng hóa nhập khẩu có kích thước nhỏ không thể hiện được đầy đủ các nội dung bắt buộc theo cỡ chữ tối thiểu 0,9 mm thì phải ghi các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 42 của Nghị định này trên bao bì của hàng hóa bằng nhãn vật lý.
2. Ngôn ngữ trình bày nhãn hàng hóa
- Những nội dung bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa lưu thông tại thị trường Việt Nam phải ghi bằng tiếng Việt, trừ một số trường hợp theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 39 Nghị định 37/2026/NĐ-CP
- Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà trên nhãn chưa thể hiện hoặc thể hiện chưa đủ những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt thì phải có nhãn phụ thể hiện những nội dung bắt buộc bằng tiếng Việt và giữ nguyên nhãn gốc của hàng hóa. Nội dung ghi bằng tiếng Việt phải tương ứng với nội dung ghi trên nhãn gốc.
3. Nội dung bắt buộc phải thể hiện trên nhãn hàng hóa:
Nhãn gốc của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam bắt buộc phải thể hiện bằng nhãn vật lý có các nội dung sau bằng tiếng nước ngoài hoặc tiếng Việt khi làm thủ tục thông quan:
- Tên hàng hóa;
- Xuất xứ hàng hóa;
Trường hợp không xác định được xuất xứ thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 47 Nghị định 37/2026/NĐ-CP;
Tên nước hoặc vùng lãnh thổ xuất xứ hàng hóa trên nhãn gốc được viết tắt theo quy định tại TCVN 7217-1;
- Tên đầy đủ hoặc tên viết tắt và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài;
Trường hợp trên nhãn gốc hàng hóa chưa thể hiện tên đầy đủ và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa ở nước ngoài thì các nội dung này phải thể hiện đầy đủ trong tài liệu kèm theo hàng hóa hoặc trong chứng từ của lô hàng;
Đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có nhãn gốc tiếng nước ngoài theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 42 Nghị định 37/2026/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân nhập khẩu phải thực hiện việc bổ sung nhãn hàng hóa ghi bằng tiếng Việt theo quy định tại khoản 1 Điều 42 Nghị định 37/2026/NĐ-CP trước khi đưa hàng hóa vào lưu thông tại thị trường Việt Nam.
4. Tên và địa chỉ tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa
Theo quy định tại Điều 44 Nghị định 37/2026/NĐ-CP về tên địa chỉ tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa như sau:
- Hàng hóa nhập khẩu để lưu thông tại Việt Nam ghi tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất và ghi tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân nhập khẩu trên nhãn hàng hóa.
- Hàng hóa được sản xuất tại nhiều cơ sở sản xuất khác nhau, có cùng thương hiệu thì ghi tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu thương hiệu đó hoặc hiện diện thương mại của chủ sở hữu thương hiệu đó tại Việt Nam trên nhãn hàng hóa nếu được chủ sở hữu thương hiệu đó cho phép, bảo đảm truy xuất được cơ sở sản xuất ra hàng hóa.
- Hàng hóa là trang thiết bị y tế được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu để lưu thông tại Việt Nam thì ghi tên, địa chỉ của chủ sở hữu trang thiết bị y tế và tên, địa chỉ của chủ sở hữu số lưu hành. Trường hợp trang thiết bị y tế chưa có số lưu hành thì ghi tên, địa chỉ của chủ sở hữu trang thiết bị y tế và tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân trên giấy phép nhập khẩu.
- Hàng hóa của tổ chức, cá nhân làm đại lý bán hàng trực tiếp cho thương nhân nước ngoài nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam thì ghi tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân sản xuất và tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân làm đại lý bán hàng hóa đó.
- Hàng hóa được lắp ráp hoàn chỉnh từ nhiều bộ phận, linh kiện mà các bộ phận, linh kiện này được nhập khẩu và/hoặc sản xuất tại nhiều cơ sở sản xuất khác nhau thì trên nhãn hàng hóa ghi rõ tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân lắp ráp hoàn chỉnh.
- Hàng hóa được phối trộn đơn giản từ nhiều nguyên liệu mà các nguyên liệu này được nhập khẩu và/hoặc sản xuất tại nhiều cơ sở sản xuất khác nhau thì trên nhãn hàng hóa ghi rõ tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân phối trộn.
Nhãn hàng hóa phải được đặt ở vị trí nào?
Theo quy định tại Điều 36 Nghị định 37/2026/NĐ-CP về vị trí nhãn hàng hóa như sau:
- Nhãn hàng hóa phải được thể hiện trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa ở vị trí khi quan sát có thể nhận biết được dễ dàng, đầy đủ các nội dung quy định của nhãn mà không phải tháo rời các chi tiết, các phần của hàng hóa.
Những nội dung bắt buộc phải ghi trên nhãn hàng hóa không cẩn thể hiện tập trung trên nhãn, có thể được ghi trên vị trí khác của hàng hóa, bảo đảm khi quan sát có thể nhận biết được dễ dàng, đầy đủ mà không phải tháo rời các chi tiết, các phần của hàng hóa. Những nội dung bắt buộc đó là một phần của nhãn hàng hóa.
Đối với các hàng hóa đặc thù như tranh, tượng, đồ gốm sứ nghệ thuật, điêu khắc, nhãn hàng hóa không thể hiện được ở vị trí đễ quan sát trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa nhãn hàng hóa, thì nhãn hàng hóa được thể hiện trên thẻ rời đi kèm hàng hóa, mặt sau hoặc mặt dưới của hàng hóa.
- Hàng hóa có cả bao bì trực tiếp và bao bì ngoài thực hiện ghi nhãn theo nguyên tắc sau:
- Hàng hóa trên thị trường có cả bao bì ngoài, không bán riêng lẻ các đơn vị hàng hóa nhỏ có bao bì trực tiếp bên trong thì phải ghi nhãn trên bao bì ngoài;
- Hàng hóa trên thị trường có cả bao bì ngoài và đồng thời tách ra bán lệ các đơn vị hàng hóa nhỏ có bao bì trực tiếp bên trong thì phải ghi nhãn đầy đủ cho cả bao bì ngoài và bao bì trực tiếp.
- Trường hợp không được hoặc không thể mở bao bì ngoài thì trên bao bì ngoài phải có nhãn và nhãn phải trình bày đầy đủ nội dung bắt buộc.
- Trường hợp bao bì ngoài trong suốt có thể quan sát được nội dung ghi nhãn sản phẩm bên trong thì không bắt buộc ghi nhãn cho bao bì ngoài.
Xuất xứ hàng hóa ghi trên nhãn được thể hiện như thế nào?
Theo quy định tại Điều 47 Nghị định 37/2026/NĐ-CP về xuất xứ hàng hóa như sau:
- Tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu tự xác định và ghi xuất xứ hàng hóa của mình bảo đảm trung thực, chính xác, tuân thủ các quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa sản xuất tại Việt Nam hoặc các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
- Xuất xứ hàng hóa ghi trên nhãn thể hiện bằng một trong các cụm từ sau: “sản xuất tại”; “chế tạo tại”; “nước sản xuất”; “xuất xứ”; “sản xuất bởi”; “sản phẩm của” hoặc “Origin”; “Made in”; “Produced in”; “Product of” kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ sản xuất ra hàng hóa hoặc ghi theo quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa.
- Trường hợp hàng hóa không xác định được xuất xứ theo quy định tại khoản 1 thì ghi nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa. Thể hiện bằng một trong các cụm hoặc kết hợp các cụm từ thể hiện công đoạn hoàn thiện hàng hóa như sau: “lắp ráp tại”; “đóng chai tại”; “phối trộn tại”; “hoàn tất tại”; “đóng gói tại”; “dán nhãn tại” hoặc “Assembled in”, “Finished in”, hoặc “Assembled by”, kèm tên nước hoặc vùng lãnh thổ nơi thực hiện công đoạn cuối cùng để hoàn thiện hàng hóa.
Kết luận
Nghị định 37/2026/NĐ-CP đã quy định tương đối cụ thể về việc ghi nhãn hàng hóa, trong đó đặt ra những yêu cầu đáng lưu ý đối với hàng hóa nhập khẩu như nhãn gốc, nhãn phụ bằng tiếng Việt, thông tin về tổ chức nhập khẩu, xuất xứ hàng hóa, vị trí và kích thước nhãn.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, tuân thủ quy định về ghi nhãn không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước mà còn góp phần bảo đảm tính minh bạch về nguồn gốc, trách nhiệm đối với sản phẩm và quyền được tiếp cận thông tin của người tiêu dùng.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
