ĐIỀU KIỆN THAM GIA GIAO DỊCH TRÊN SÀN DỮ LIỆU CỦA CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN
Trong bối cảnh kỷ nguyên số và kinh tế số phát triển mạnh mẽ, dữ liệu đã trở thành một loại tài sản đặc biệt có giá trị kinh tế cao. Việc thành lập và vận hành các sàn giao dịch dữ liệu nhằm tạo ra môi trường công khai, minh bạch cho các hoạt động mua bán, chia sẻ, khai thác dữ liệu giữa các bên là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, không ít tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân vẫn còn mơ hồ về các điều kiện pháp lý cần thiết để được phép tham gia giao dịch trên sàn.
Thực tế, dữ liệu là đối tượng quản lý nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến quyền riêng tư, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật kinh doanh. Việc tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu không chỉ đơn thuần là các thỏa thuận thương mại mà còn phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, tính hợp pháp của nguồn dữ liệu và tư cách pháp lý của các bên tham gia.
Đáng chú ý, Chính phủ vừa mới ban hành Nghị định số 314/2026/NĐ-CP (có hiệu lực từ ngày 25/9/2026) quy định hoạt động của sàn dữ liệu đã thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ đối với các đối tượng khi gia nhập thị trường giao dịch dữ liệu.
Thế nào là sàn dữ liệu?
Theo khoản 1 Điều 42 Luật Dữ liệu 2024 quy định:
“1. Sàn dữ liệu là nền tảng cung cấp tài nguyên liên quan đến dữ liệu để phục vụ nghiên cứu, phát triển khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; cung cấp các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội; là môi trường để giao dịch, trao đổi dữ liệu và các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến dữ liệu.”
Theo đó sàn dữ liệu là nền tảng cung cấp tài nguyên liên quan đến dữ liệu để phục vụ nghiên cứu, phát triển khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.
Sàn dữ liệu cung cấp các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến dữ liệu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội. Sàn dữ liệu là môi trường để giao dịch, trao đổi dữ liệu và các sản phẩm, dịch vụ liên quan đến dữ liệu.
Tổ chức cung cấp dịch vụ sàn dữ liệu là đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước đáp ứng điều kiện cung cấp dịch vụ và được cấp phép thành lập theo quy định của pháp luật.
Điều kiện để tổ chức, cá nhân được tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu?
Để trở thành thành viên và thực hiện các giao dịch thương mại trên sàn dữ liệu, tổ chức, cá nhân phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 16 Nghị định 314/2026/NĐ-CP sau:
“1. Tổ chức là pháp nhân Việt Nam được thành lập và hoạt động hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam; không đang trong quá trình chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật.
2. Tổ chức là pháp nhân nước ngoài phải được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật nơi pháp nhân đó đặt trụ sở; đáp ứng các điều kiện tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật dân sự và các quy định khác có liên quan; có hiện diện thương mại, chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
3. Cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật.
4. Tổ chức cung cấp sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu thuộc danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện phải được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.”
Điều kiện đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được giao dịch trên sàn dữ liệu
Nghị định nêu rõ, dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được giao dịch trên sàn dữ liệu phải bảo đảm các nội dung sau:
1. Về tính hợp pháp và thông tin công bố
a) Có nguồn gốc hợp pháp và được chứng minh bằng các hồ sơ, tài liệu hợp lệ về việc thu thập, tạo lập hoặc nhận chuyển giao quyền khai thác, sử dụng dữ liệu; đối tượng, nội dung, phương pháp và quy trình tạo ra dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu phải bảo đảm tính minh bạch, tuân thủ quy định của pháp luật và đã được tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu kiểm tra, đánh giá.
Việc cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu không bao gồm các nội dung thuộc bí mật kinh doanh hoặc các thông tin khác thuộc phạm vi bảo vệ theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá sự phù hợp của hồ sơ, tài liệu theo quy định của Nghị định này.
b) Có các điều kiện, yêu cầu hoặc hạn chế (nếu có) trong việc lưu thông, lưu hành và sử dụng dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu đã được Bên bán xác định và công bố rõ ràng trong hồ sơ dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu.
2. Không thuộc trường hợp dữ liệu không được phép giao dịch theo quy định của pháp luật về dữ liệu.
3. Tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật tối thiểu sau đây:
a) Có định dạng phù hợp, thông dụng, bảo đảm khả năng đọc, khai thác và xử lý bằng máy.
b)Trường hợp được cung cấp thông qua giao diện lập trình ứng dụng, phải có tài liệu hướng dẫn kết nối, mô tả cấu trúc dữ liệu, phương thức xác thực, phân quyền truy cập và giới hạn khai thác.
c) Bảo đảm khả năng kết nối, chia sẻ, khai thác và sử dụng trên hệ thống của sàn dữ liệu.
d) Bảo đảm an toàn, bảo mật trong quá trình kết nối, truyền, nhận, lưu trữ và khai thác dữ liệu.
đ) Bên bán phải công bố trong hồ sơ niêm yết thông tin về chất lượng, mức độ chính xác, đầy đủ, cập nhật và các hạn chế của dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu.
Tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu căn cứ các yêu cầu tối thiểu trên để ban hành, công khai yêu cầu kỹ thuật cụ thể phù hợp với đặc điểm hoạt động của sàn dữ liệu.
Trách nhiệm của bên bán và bên mua trên sàn dữ liệu được quy định như thế nào?
Trách nhiệm pháp lý của Bên bán và Bên mua khi tham gia giao dịch trên sàn dữ liệu được quy định cụ thể tại Nghị định 314/2026/NĐ-CP như sau:
Đối với Bên bán:
Theo khoản 1 Điều 32 Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định:
“1. Bên bán có trách nhiệm:
a) Bảo đảm và chứng minh nguồn gốc hợp pháp; quyền sở hữu, quyền cung cấp, khai thác, sử dụng, chuyển giao và giao dịch đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu; tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, bí mật nhà nước, an ninh mạng, sở hữu trí tuệ và pháp luật khác có liên quan;
b) Cung cấp đầy đủ, chính xác, trung thực thông tin, tài liệu; bảo đảm chất lượng, tính đầy đủ, cập nhật và yêu cầu kỹ thuật của dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được kê khai, niêm yết và cung cấp trên sàn dữ liệu;
c) Duy trì các điều kiện kỹ thuật cần thiết để Bên mua truy cập, khai thác, sử dụng dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu theo hợp đồng;
d) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh cho Bên mua, tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu hoặc bên thứ ba do cung cấp dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu không chính xác, không hợp pháp, không đáp ứng yêu cầu về chất lượng, kỹ thuật hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
đ) Đối với dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu được hình thành từ cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, Bên bán cung cấp quyết định, văn bản chấp thuận, thỏa thuận, văn bản ủy quyền hoặc tài liệu khác chứng minh việc được cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền cho phép khai thác, sử dụng, cung cấp, giao dịch trên sàn dữ liệu, trừ trường hợp dữ liệu mở đã được công bố theo quy định của pháp luật;
e) Cơ quan, tổ chức chia sẻ, đồng bộ dữ liệu vào Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia chỉ có tư cách Bên bán khi trực tiếp cung cấp quyền khai thác, sử dụng dữ liệu trên sàn dữ liệu; trường hợp ủy quyền cho chủ thể khác thực hiện việc cung cấp thì chủ thể được ủy quyền phải chứng minh việc ủy quyền hợp pháp;
g) Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.”
Đối với Bên mua:
Theo khoản 2 Điều 32 Nghị định 314/2026/NĐ-CP quy định:
“2. Bên mua có trách nhiệm:
a) Bảo đảm việc khai thác, sử dụng dữ liệu và sản phẩm về dữ liệu đúng phạm vi, mục đích và thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng và theo các điều kiện niêm yết của dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu trên sàn dữ liệu; không chuyển giao lại, sao chép hoặc sử dụng vượt phạm vi theo thỏa thuận;
b) Thanh toán đầy đủ và đúng hạn chi phí giao dịch, giá trị hợp đồng và các khoản phí dịch vụ có liên quan cho tổ chức kinh doanh dịch vụ sản dữ liệu và Bên bán theo quy định;
c) Chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi khai thác, sử dụng dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ về dữ liệu; bồi thường thiệt hại thực tế phát sinh cho Bên bán, tổ chức kinh doanh dịch vụ sàn dữ liệu, chủ thể dữ liệu hoặc bên thứ ba do vi phạm phạm vi quyền khai thác, sử dụng hoặc vi phạm các nghĩa vụ khác theo hợp đồng và quy định của pháp luật;
d) Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.”
Như vậy, việc quy định rõ ràng nghĩa vụ của hai bên đóng vai trò là hành lang pháp lý quan trọng: Bên bán chịu trách nhiệm toàn diện về nguồn gốc, tính hợp pháp của dữ liệu và nghĩa vụ bồi thường nếu cung cấp thông tin sai lệch, xâm phạm quyền riêng tư; trong khi Bên mua bị ràng buộc chặt chẽ về phạm vi khai thác, chịu trách nhiệm bồi thường nếu tự ý sao chép, chuyển giao hoặc sử dụng dữ liệu trái thỏa thuận.
Kết luận
Sàn giao dịch dữ liệu mở ra cơ hội rất lớn cho việc tối ưu hóa tài sản số và thúc đẩy các mô hình kinh doanh dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, ranh giới giữa giao dịch dữ liệu hợp pháp và vi phạm pháp luật về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu là rất mong manh.
Do đó, các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân khi chuẩn bị tham gia thị trường này cần chủ động rà soát nguồn gốc dữ liệu, chuẩn hóa quy trình xin cấp phép/đồng ý của chủ thể dữ liệu và tuân thủ chặt chẽ các quy định định danh, an toàn thông tin của sàn.
Tuân thủ đúng các điều kiện pháp lý ngay từ đầu không chỉ giúp các bên tránh khỏi các chế tài xử phạt nặng nề mà còn xây dựng được uy tín, bảo vệ tài sản trí tuệ và hoạt động kinh doanh bền vững trong kỷ nguyên số.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
