Bản cam đoan trong hồ sơ bảo lĩnh có cần cơ quan nhà nước xác nhận không?
Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự, nhằm tạo điều kiện để người bị buộc tội được tiếp tục sinh hoạt trong xã hội trong thời gian giải quyết vụ án, đồng thời vẫn bảo đảm sự có mặt theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, trên thực tế, khi thực hiện thủ tục bảo lĩnh, nhiều người băn khoăn liệu bản cam đoan của cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh có phải được cơ quan nhà nước hoặc chính quyền địa phương xác nhận hay không. Việc hiểu đúng quy định pháp luật sẽ giúp người dân chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, tránh kéo dài thời gian giải quyết.
Bảo lĩnh là gì?
Theo Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với bị can, bị cáo nhằm thay thế biện pháp tạm giam căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo.
Chủ thể có thể nhận bảo lĩnh bao gồm:
- Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người.
- Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình.
Việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh thuộc thẩm quyền quyết định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án theo quy định pháp luật.
Lưu ý, theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì người thân thích của người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là người có quan hệ với người tham gia tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm vợ, chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, bố nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, cháu ruột.
Bản cam đoan trong hồ sơ bảo lĩnh có phải được xác nhận không?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, cá nhân nhận bảo lĩnh hay cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh đều phải làm giấy cam đoan như sau:
“Điều 121. Bảo lĩnh
[…] 2. Cơ quan, tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người của cơ quan, tổ chức mình. Cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh phải có giấy cam đoan và có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Cá nhân là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người. Cá nhân nhận bảo lĩnh phải làm giấy cam đoan có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập […]”
Như vậy, đối với cá nhân nhận bảo lĩnh, giấy cam đoan phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập. Đối với trường hợp cơ quan, tổ chức nhận bảo lĩnh, giấy cam đoan phải có xác nhận của người đứng đầu cơ quan, tổ chức.
Nội dung cam đoan của người nhận bảo lĩnh
Trong giấy cam đoan, cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh phải cam đoan không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bao gồm:
- Có mặt theo giấy triệu tập, trừ trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan;
- Không bỏ trốn hoặc tiếp tục phạm tội;
- Không mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; không tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; không đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
Việc không thực hiện đúng nội dung cam đoan có thể là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh và áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, chủ thể nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan thì tùy vào tính chất, mức độ vi phạm mà bị phạt tiền theo quy định của pháp luật.
Lưu ý, theo quy định tại khoản 5 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời hạn bảo lĩnh không được quá thời hạn điều tra, truy tố hoặc xét xử theo quy định của Bộ luật này. Thời hạn bảo lĩnh đối với người bị kết án phạt tù không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm người đó đi chấp hành án phạt tù.
Kết luận
Khi thực hiện thủ tục bảo lĩnh, người dân cần chuẩn bị đúng và đầy đủ giấy cam đoan theo quy định của pháp luật, đồng thời thực hiện thủ tục xác nhận tại cơ quan có thẩm quyền để bảo đảm hồ sơ hợp lệ, tránh việc bị yêu cầu bổ sung hoặc kéo dài thời gian xem xét giải quyết. Bên cạnh đó, người nhận bảo lĩnh cũng cần nhận thức rằng việc ký giấy cam đoan không chỉ mang ý nghĩa về mặt thủ tục hành chính mà còn làm phát sinh trách nhiệm pháp lý trong việc quản lý, giám sát người được bảo lĩnh theo đúng nội dung đã cam kết.
CÔNG TY LUẬT TNHH ĐÔNG DƯƠNG VIỆT
ĐỨC – TRÍ – TÍN
Sắc bén trong giải pháp – Vững vàng trong niềm tin
